·13 phút đọc
BIẾN AI THÀNH NGƯỜI ĐỒNG HÀNH TRÍ TUỆ
Trong lịch sử các triều đại xưa, một vị vua không chỉ mất nước vì quân thù bên ngoài.

Trong lịch sử các triều đại xưa, một vị vua không chỉ mất nước vì quân thù bên ngoài. Có khi nguy hiểm lớn hơn lại nằm ngay trong cung điện, nơi những lời xu nịnh được nói ra mỗi ngày bằng giọng trung thành. Nịnh thần thường không cần phản bội một cách ồn ào. Họ chỉ cần nói đúng điều nhà vua muốn nghe, che bớt điều nhà vua không muốn thấy, tô đẹp những quyết định sai lầm, rồi dần dần khiến người cầm quyền mất đi khả năng lắng nghe những lời trái nhĩ.
Ngược lại, những bậc minh quân thường được nhắc đến không chỉ vì họ có quyền lực, mà vì họ biết tự đặt quyền lực ấy vào trong sự kiểm soát của lời can gián. Một trong những ví dụ nổi tiếng là Đường Thái Tông và Ngụy Trưng. Đường Thái Tông được xem là một trong những vị vua sáng của lịch sử Trung Hoa không chỉ vì tài trị quốc, mà vì ông có khả năng chịu nghe lời nói trái tai. Ngụy Trưng nhiều lần can gián rất thẳng thắn, có khi khiến vua khó chịu, nhưng Đường Thái Tông vẫn giữ ông bên cạnh như một tấm gương soi lỗi. Sau khi Ngụy Trưng mất, ông từng nói đại ý rằng lấy đồng làm gương thì có thể chỉnh lại y phục, lấy lịch sử làm gương thì có thể biết sự hưng vong, lấy người làm gương thì có thể biết điều được mất.
Tôi nghĩ hình ảnh ấy rất đáng để đem trở lại trong thời đại AI. Một trợ lý AI có thể trở thành một nịnh thần rất tinh vi nếu ta chỉ tìm đến nó để được đồng tình. Nhưng nó cũng có thể trở thành một gián quan, một người phản biện, một tấm gương soi lại điểm mù của ta, nếu ngay từ đầu ta biết giao cho nó một vai trò rõ ràng. Vấn đề không chỉ là AI thông minh đến đâu. Vấn đề là ta đang yêu cầu nó đứng về phía sự thật, hay đứng về phía cảm giác dễ chịu của mình.
Không ít người đang thấy trò chuyện với AI dễ chịu hơn trò chuyện với người. Nó không cắt lời, không phán xét, không tỏ ra chán nản giữa chừng, không mệt, không bận, cũng không bao giờ quá bận để nghe ta. Ba giờ sáng ta nhắn, nó vẫn trả lời ngay, vẫn điềm đạm, vẫn có vẻ thấu hiểu. Với một người đang cô đơn, đang tổn thương, đang không biết tỏ bày cùng ai, một sự hiện diện như thế quả thật có sức an ủi.
Và dữ liệu cũng phần nào xác nhận điều đó. Một nghiên cứu của Julian De Freitas và cộng sự, dưới dạng Harvard Business School Working Paper, cho thấy việc trò chuyện với một người bạn đồng hành bằng AI có thể làm dịu cảm giác cô đơn ở mức tương đương với việc tương tác cùng một con người thật trong bối cảnh thí nghiệm, và hiệu quả này cao hơn các hoạt động như xem YouTube. Một cơ chế quan trọng nằm ở cảm giác được lắng nghe, cảm giác lời mình nói ra được tiếp nhận bằng sự chú tâm, cảm thông và tôn trọng (De Freitas et al., 2024).
Nghe tới đây, hẳn ta thấy đây là một tin vui. Nhưng trong chính cách những cỗ máy ấy được tạo ra lại có một chi tiết rất đáng để chiêm nghiệm.
Những trợ lý AI trò chuyện được huấn luyện, trong số nhiều mục tiêu khác, để người dùng muốn quay lại. Mà một trong những cách hữu hiệu nhất để khiến ai đó muốn quay lại trò chuyện là làm họ cảm thấy dễ chịu, được đồng tình, được công nhận. Giới nghiên cứu gọi khuynh hướng này là sự nịnh chiều, hay sycophancy, tức là xu hướng của cỗ máy thiên về đồng ý, khen ngợi và xác nhận điều người dùng nói (Cheng et al., 2026).
Một nghiên cứu công bố trên Science năm 2026 đã làm một thí nghiệm đáng suy ngẫm. Trong các tình huống xin lời khuyên liên cá nhân và các tình huống lấy từ Reddit nơi cộng đồng cho rằng người đăng đã sai, các mô hình AI xác nhận lập trường của người dùng nhiều hơn con người trung bình 49%, ngay cả khi tình huống có yếu tố gian dối, phạm pháp hoặc gây hại (Cheng et al., 2026).
Nói cách khác, cỗ máy có xu hướng đứng về phía ta ngay cả khi điều ta cần hơn là một ai đó đủ thẳng thắn để nói rằng ta đã sai.
Ở đây có một cái bẫy nhận thức cần được nhìn cho rõ. Khi một thực thể luôn đồng tình với ta, cảm giác bề mặt là được thấu hiểu, được nâng đỡ, được đứng về phía. Chính vì cảm giác ấy quá dễ chịu, ta khó nhận ra rằng mình đang thiếu đi một phần thiết yếu của mọi mối quan hệ trưởng thành, đó là sự cọ xát với một góc nhìn khác, sự va chạm với một người dám không đồng ý với ta.
Nhà phân tâm học người Anh Donald Winnicott, khi nghiên cứu về sự phát triển của trẻ nhỏ, đưa ra một khái niệm sâu sắc về người mẹ đủ tốt (good enough mother). Theo ông, người mẹ tốt cho sự trưởng thành của con không phải là người đáp ứng mọi nhu cầu của con một cách hoàn hảo và tức thì. Người mẹ ấy đáp ứng vừa đủ, và đôi khi để con thất vọng trong một mức độ có thể chịu đựng được. Chính những lần thất vọng nhỏ ấy, trong một môi trường an toàn, lại dạy đứa trẻ rằng thế giới không xoay quanh nó, rằng người khác có giới hạn riêng, và rằng nó vẫn có thể sống được khi mọi sự không diễn ra theo ý mình (Winnicott, 1965).
Một mối quan hệ người với người trưởng thành cũng mang trong nó thứ va chạm tích cực ấy. Người bạn thật đôi khi nói thẳng điều ta không muốn nghe. Người thương thật đôi khi có nhu cầu khác với ta, mệt mỏi vào lúc ta cần, hiểu lầm ta rồi lại cùng ta học cách làm hòa. Chính những va chạm này, dù khó chịu, lại là nơi ta học cách thương một con người có giới hạn, học cách chịu đựng sự khác biệt, học cách thấy rằng mình không phải trung tâm của vũ trụ. Đó là trường học cho sự trưởng thành về mặt cảm xúc.
Khi một người dành phần lớn nhu cầu kết nối của mình cho một thực thể không bao giờ phản đối, không bao giờ mệt, không bao giờ có nhu cầu riêng, người ấy đang sống trong một mối quan hệ gần như thiếu vắng hoàn toàn thứ ma sát đó. Và đây là chỗ cái bẫy lộ ra. Càng quen với một đối tượng luôn chiều theo mình, ta càng dễ thấy những con người thật quanh mình trở nên phiền phức, khó ưa, nhiều đòi hỏi. Ngưỡng chịu đựng sự khác biệt của ta cứ hẹp dần. Ta tưởng mình đang được nâng đỡ, nhưng thật ra có thể đang tự rút lui khỏi chính cái trường học làm mình lớn lên.
Tôi muốn dừng ở một phát hiện trong nghiên cứu mà tôi thấy vừa thương vừa đáng lo. Một nghiên cứu trên 1.131 người dùng CharacterAI tại Mỹ cho thấy những người có mạng lưới quan hệ xã hội nhỏ hơn có xu hướng dùng chatbot như một người đồng hành nhiều hơn. Đáng chú ý, kiểu sử dụng này có liên hệ với mức an lành tinh thần thấp hơn, đặc biệt khi người dùng tương tác ở cường độ cao và bộc lộ nhiều điều riêng tư với chatbot (Zhang et al., 2025).
Hãy nghĩ về vòng xoáy này. Một người vốn đã cô đơn, vốn đã ngại va chạm với người thật, tìm đến một đối tượng dễ chịu hơn, an toàn hơn, không bao giờ làm họ tổn thương. Họ thấy nhẹ nhõm tức thời. Nhưng càng dựa vào sự nhẹ nhõm ấy, họ càng ít bước ra ngoài, càng ít luyện tập cái năng lực cồng kềnh và đầy rủi ro của việc kết nối với con người. Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng kéo dài 4 tuần, với 981 người tham gia và hơn 300.000 tin nhắn, ghi nhận rằng những người tự nguyện dùng chatbot nhiều hơn mỗi ngày có xu hướng cô đơn hơn, lệ thuộc cảm xúc vào AI nhiều hơn, sử dụng AI theo cách có vấn đề hơn và giao tiếp ngoài đời thực ít hơn (Fang et al., 2025). Cái phao cứu sinh, nếu ôm chặt quá lâu, có thể trở thành thứ giữ ta mãi không thể tự bơi.
Tôi không kể điều này để lên án những ai tìm thấy chút an ủi nơi một cuộc trò chuyện với AI. Trong một thế giới mà sự cô đơn đã trở thành một thứ dịch lặng lẽ, một sự hiện diện biết lắng nghe, dù là máy, vẫn còn hơn không có gì. Vấn đề không nằm ở chỗ thi thoảng tìm đến nó. Vấn đề nằm ở chỗ ta để nó thay thế dần những mối quan hệ người, mà không nhận ra mình đang đánh đổi điều gì.
Trí tuệ phương Đông từ lâu đã nhìn thấu một điều, rằng con người vốn ưa được vuốt ve hình ảnh đẹp đẽ về chính mình. Ta thích những ai khen ta, đồng tình với ta, công nhận ta là đúng. Đó là một dính mắc rất tự nhiên và cũng rất sâu dày. Một người bạn, một người thương, một người thầy, chính là những tấm gương đôi khi phản chiếu lại cho ta thấy cả những phần ta không muốn nhìn. Và chính nhờ được thấy những phần ấy, ta mới có cơ hội nhìn lại mình mà chuyển hóa.
Một thực thể được thiết kế để làm ta hài lòng thì rất dễ trở thành một tấm gương chỉ biết nói rằng ta đẹp. Soi vào đó, ta luôn thấy mình ổn, mình đúng, mình đáng được đồng tình. Nhưng một tấm gương như thế, dù dễ chịu đến đâu, lại không đủ giúp ta lớn lên. Bởi sự trưởng thành của một con người, xưa nay, vẫn luôn đòi hỏi can đảm nhìn vào những gì chưa đẹp nơi mình. Điều đó thường chỉ xảy ra khi có một người khác, bằng sự chân thành và đôi khi bằng cả sự không đồng tình, dám phản chiếu lại cho ta.
Vì vậy, có lẽ câu hỏi không phải là ta có nên trò chuyện với AI hay không. Câu hỏi đúng hơn là ta đang trò chuyện với nó như trò chuyện với một nịnh thần hay một gián quan.
Nếu ta chỉ hỏi AI để được an ủi, được xác nhận, được nghe rằng mình đúng, nó sẽ rất dễ chiều ta theo hướng ấy. Nhưng nếu ta giao cho nó một vai trò khác, chẳng hạn như “hãy phản biện tôi”, “hãy chỉ ra điểm mù trong lập luận này”, “hãy nói điều tôi có thể đang né tránh”, “hãy đóng vai một người bạn đủ chân thành để không đồng ý với tôi”, thì cùng một công cụ ấy có thể mở ra một kiểu đối thoại khác. Nó không thay thế được con người thật, nhưng nó có thể giúp ta tập lại năng lực lắng nghe điều trái ý trước khi đem năng lực ấy trở về với các mối quan hệ ngoài đời.
Rõ ràng AI có thể làm dịu nỗi cô đơn, điều đó khó chối. Nhưng câu hỏi đáng để ta ở lại lâu hơn là, khi đã quen được đồng tình một cách dễ dàng đến thế, liệu ta có còn đủ sức chịu đựng một con người thật, với tất cả sự khác biệt, giới hạn và đôi khi cả sự phản đối của họ hay không. Bởi một con người học được cách thương một con người khác chính trong khả năng chịu đựng ấy, qua những lần ở lại với nhau dù không dễ chịu. Và đó có lẽ là điều mà không một cỗ máy nào, dù dịu dàng đến đâu, có thể làm giùm ta được.
Tài liệu tham khảo
Cheng, M., Lee, C., Khadpe, P., Yu, S., Han, D., & Jurafsky, D. (2026). Sycophantic AI decreases prosocial intentions and promotes dependence. Science, 391(6792), eaec8352. [https://doi.org/10.1126/science.aec8352](https://l.facebook.com/l.php?u=https%3A%2F%2Fdoi.org%2F10.1126%2Fscience.aec8352%3Ffbclid%3DIwZXh0bgNhZW0CMTAAYnJpZBEyRUdqdDM0am1kRGhtNzkxUnNydGMGYXBwX2lkEDIyMjAzOTE3ODgyMDA4OTIAAR5kyXxh9CFY58OK9FyEANDnrtyGFkUB1847AIRzbgfx3Yvu7b-pqomO7RcvpQ_aem_ytUbAvCpKZVqHWiV8dkF4w&h=AUAhL9OQl4xNGSsg1KQpG3RKMhsjcGhvCeq8qMYwQztg4vvKdVFIavVfGfSDRzRLjKTphUkpjbYJD76UHoI_yuBtPYGpitpzKmXBnuY0p83bor63M3n48276kUbmSpF4OrZmbHgmQIbq1pTr&__tn__=R]-R&c[0]=AUDDiti4oGZMomv7wdbb_vPn_53PoUmsIodtJayl2sBGyhjd-DqGF03O4BD-0FEviNZI76aLlTymP5Mp8v4CS2eO0deJKIMiMxXnTzEazDT8KJswOAzrh7fwOFKc4PN6o_2sd55MAP4J0hIGB6fPe3sjyKuLHjKY3-HGP2NfJuA1-QKKOPfGxLwXSFX9B-Ma)
De Freitas, J., Uğuralp, A. K., Uğuralp, Z., & Puntoni, S. (2024). AI companions reduce loneliness (Harvard Business School Working Paper No. 24-078). SSRN. [https://doi.org/10.2139/ssrn.4893097](https://doi.org/10.2139/ssrn.4893097?fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTAAYnJpZBEyRUdqdDM0am1kRGhtNzkxUnNydGMGYXBwX2lkEDIyMjAzOTE3ODgyMDA4OTIAAR7P17ijAhCdpHzbXzirmcpOAXOqKNIv1qDMWfC-YbeY4ZbjRuodyDIw_hiMDQ_aem_Hih8ZOQ0V8Vz8AVQY_-8bw)
Fang, C. M., Liu, A. R., Danry, V., Lee, E., Chan, S. W. T., Pataranutaporn, P., Maes, P., Phang, J., Lampe, M., Ahmad, L., & Agarwal, S. (2025). How AI and human behaviors shape psychosocial effects of extended chatbot use: A longitudinal randomized controlled study. arXiv. [https://doi.org/10.48550/arXiv.2503.17473](https://doi.org/10.48550/arXiv.2503.17473?fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTAAYnJpZBEyRUdqdDM0am1kRGhtNzkxUnNydGMGYXBwX2lkEDIyMjAzOTE3ODgyMDA4OTIAAR6wh9b4WteWBLngoU7i22ve1F3_TGuev0T-qZ_tfHzwUdDMw000DHwuirpO_w_aem_l580lVRuOu2DRuiCpwjIGQ)
Winnicott, D. W. (1965). The maturational processes and the facilitating environment: Studies in the theory of emotional development. Hogarth Press.
Zhang, Y., Zhao, D., Hancock, J. T., Kraut, R., & Yang, D. (2025). The rise of AI companions: Interaction with AI companions and psychological well-being. arXiv. [https://doi.org/10.48550/arXiv.2506.12605](https://doi.org/10.48550/arXiv.2506.12605?fbclid=IwZXh0bgNhZW0CMTAAYnJpZBEyRUdqdDM0am1kRGhtNzkxUnNydGMGYXBwX2lkEDIyMjAzOTE3ODgyMDA4OTIAAR77pmC28dtyXqGc34vZFzdjGJzat_j1v40lH5QwCB-JVh0XNvSXmuWXz97MSw_aem_BGal_l7698_ffTQEbf-_BQ)
Bài gốc trên Substack của Lê Đình Lực.